Hầu hết các bệnh nhân thông báo với bác sĩ có tiền sử dị ứng với penicillin đều không dị ứng

Penicillin là một trong những kháng sinh được sử dụng phổ biến nhất. Đây là một nhóm kháng sinh lớn có thể dùng đường uống hoặc tiêm để điều trị nhiều bệnh nhiễm khuẩn và là một phân nhóm của nhóm kháng sinh beta-lactam.
g

Dị ứng penicillin có phổ biến không?

Cứ 10 bệnh nhân lại có 1 người từng ghi nhận có dị ứng với penicillin trong hồ sơ khám chữa bệnh của họ. Nhiều bệnh nhân được chẩn đoán từ khi còn nhỏ, song đôi khi lại là phát ban do vi rút gây ra, không phải là phản ứng dị ứng. Trong số những bệnh nhân thực sự dị ứng với penicllin, cứ 10 người thì có 8 người không còn bị dị ứng trong vòng 10 năm sau đó. Hầu hết những bệnh nhân ở Hoa Kỳ có ghi nhận dị ứng với penicillin trong hồ sơ khám chữa bệnh vẫn có thể dung nạp penicillin và các kháng sinh beta-lactam khác sau khi làm các xét nghiệm đánh giá nguy cơ dị ứng.

Đánh giá nguy cơ dị ứng penicillin

Penicillin và các kháng sinh beta-lactam khác được coi là một trong những nhóm kháng sinh hiệu quả và an toàn nhất cho nhiều bệnh nhiễm khuẩn, và do đó điều quan trọng là phải kiểm chứng xem bạn có thực sự bị dị ứng với penicillin hay không.

Thông tin liên quan đến việc dị ứng với penicillin nếu không được đánh giá lại chắc chắn có thể dẫn đến việc sử dụng các loại kháng sinh khác để dự phòng cũng như điều trị các bệnh nhiễm khuẩn, chính điều này làm gia tăng các nguy cơ như:

• Thất bại điều trị đối với một số bệnh nhiễm khuẩn mà các kháng sinh penicillin (hoặc beta-lactam) là lựa chọn tốt nhất.

• Nhiễm trùng bệnh viện, ví dụ như nhiễm khuẩn do Clostridium difficile và nhiễm trùng vết mổ.

• Các biến cố bất lợi gặp phải từ các kháng sinh khác có thể nhiều hơn so với penicillin.

Chẩn đoán dị ứng Penicillin

Trước tiên, có thể đánh giá dị ứng penicilin bằng cách khai thác cẩn thận tiền sử liên quan đến các triệu chứng của phản ứng dị ứng. Thực hiện các xét nghiệm theo đúng quy trình chẩn đoán phản ứng dị ứng, ví dụ như test lẩy da cho những bệnh nhân có tiền sử mề đay, phát ban, sưng tấy hoặc thở nông. Test lẩy da được thực hiện bằng cách chích vào da một lượng nhỏ thuốc thử penicillin. Khi test lẩy da âm tính, tiếp tục thực hiện test nội bì. Test này sử dụng một kim nhỏ cho thuốc thử ngay bên dưới da. Đọc kết quả sau 15 đến 20 phút. Có thể thực hiện lại nếu cần thiết. Trường hợp các xét nghiệm này âm tính, không chắc chắn một bệnh nhân bị dị ứng với penicillin. Để chẩn đoán chính xác hơn, bệnh nhân sẽ được uống một liều penicillin, sau đó sẽ được giám sát cẩn thận trên lâm sàng.

Trường hợp các bệnh nhân có nguy cơ dị ứng với penicillin thấp, ví dụ bệnh nhân từng chỉ có các triệu chứng như nhức đầu, buồn nôn, nôn, ngứa hoặc tiền sử gia đình dị ứng với penicillin, không cần thực hiện các test da trước khi dùng penicillin. Ở một số bệnh nhân, có thể thử nghiệm dùng liều thuốc đầu tiên với sự giám sát chặt chẽ trên lâm sàng.

Trường hợp các bệnh nhân đã thử nghiệm sử dụng đủ một liều kháng sinh penicillin mà không gặp các phản ứng dị ứng tức thời, nghiêm trọng thì có thể tiếp tục dùng kháng sinh penicillin để điều trị. Tuy nhiên, cần lưu ý phản ứng dị ứng với các thuốc có thể xảy ra bất cứ thời điểm nào, và xét nghiệm này không phát hiện được tất cả các dạng phản ứng dị ứng đồng thời cũng không phát hiện được việc không dung nạp hoặc tác dụng không mong muốn của penicillin.

Nếu bạn có tiền sử dị ứng với penicillin, hãy thông báo cho bác sĩ để đánh giá lại nguy cơ dị ứng với penicillin.

Nguồn: https://jamanetwork.com/journals/jama/fullarticle/2720729

Khoa Dược – Bệnh viện Bạch Mai